Thiên tiên tử

Tên tiếng Việt: Sơn yên tử, Đại sơn yên tử, Jusquiame (Pháp), Mont aux poules.

Tên khoa học: Hyoscyamus niger L.

Họ: Solanaceae (Cà)

Công dụng: Có tác dụng giảm đau chấn kinh dùng trong những trường hợp đau răng, điên cuồng.

Mô tả cây

  • Thiên tiên tử là hạt cùa cây thiên tiên tử, một loại cỏ sống hàng năm hay hai năm, có thể cao 0,50m hay hơn. Thân và lá phủ nhiều lông. Phiến lá có thể dài 20-25cm, rộng 5-7cm, lá phía dưới có cuống, lá phía trên thân không cuống hơi ôm vào thân. Phiến lá chia nhiều thùy, gần chính lá nổi rõ.
  • Hoa mọc thành xim một ngả, tràng hoa màu vàng nhạt với những thùy tràng không đều nhau, với những đường gân của cánh tràng màu tía, 5 nhị.
  • Ngoài loài Hyoscyamus niger kể trên, người ta còn khai thác cả thiên tiên tử hoa trắng (Hyoscyamus aibus) cũng có cánh tràng màu vàng nhạt nhưng không có đường gân màu tía.

Phân bố, thu hái và chế biến

  • Thiên tiên tử được dùng trong cả đông y và tây y. Tây y hoàn toàn nhập và theo chúng tôi biết đông y cũng phải nhập. Có người nói ở nước ta cũng có cây này. Nhưng rất tiếc cho đến nay chúng tôi chưa được biết.
  • Đông y và Tây y đều thống nhất cây này có độc, vì trong Thần nông bản thảo tập bản thảo cổ nhất thế kỷ 2) thì thiên tiên tử được xếp vào hạ phẩm (nghĩa là có tác dụng nhưng có độc). Chúng ta cũng không rõ Trung Quốc có vị này hay cũng chỉ nhập rồi bán sang ta.
  • Tại các nước châu Âu, thiên tiên tử được trồng và thu hoạch ở các vùng ven biển Địa Trung Hải, các nước Trung Á và Tây Á. Người ta thường chọn cây sống 2 năm (chỉ có những cây này mới được công nhận chính thức làm thuốc). Tại những nuớc này trồng vào tháng 2-3, thu lứa đầu vào tháng 7, có thể thu lứa thứ 2 vào tháng 9, lứa thứ 3 vào tháng 10. Nhưng muốn thu hái lá đủ tiêu chuẩn (thu hái lúc cây ra hoa) thì phải trồng vào tháng 6, nếu không cây ra hoa ngay trong những năm đầu. Pháp lại qui định thu hái lá ở những cây có quả non. Hạt để làm thuốc phải được thu hái trên những cây có quả chín hay gần chín. Mỗi quả chứa tới 500 hạt. Hạt rất nhỏ, đường kính 1mm hơi hình thận, màu nâu nhạt hay xám tro.

Thành phần hóa học

  • Lá thiên tiên tử chứa 0,045 đến 0,08-0,12 và đặc biệt tới 0,20% ancaloit toàn phần trong đó chủ yếu là hynscyamin, một ít atropin,hyoscin hay scorolamin .
  • Hạt thiên tiên tử chứa 0,10 đến 0,14% ancaloit toàn phần trong đó có những ancaloit giống như trong lá. Ngoài ra trong hạt còn chứa 20-30% dầu béo màu vàng lục nhạt và chừng 30% tinh bột.

Tác dụng dược lý

Tương tự cà độc dược, dãn đổng tử, giảm bài tiết (nước bọt…) làm liệt đối với đầu thần kinh tim của các sợi thần kinh điều chỉnh của thần kinh phế vị dẫn đến làm tim đập nhanh gây liệt các trung tâm thần kinh, giảm tính kích thích của vỏ não dẫn đến các tác dụng làm dịu và gây ngủ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.