Sài hồ nam

Tên tiếng Việt: Sài hồ nam, Cây lức, Hải sài, Cúc tần biển

Tên khoa họcPluchea pteropoda Hemsley

Họ: Asteraceae (Cúc)

Công dụng: Hạ nhiệt, chữa sốt, hạ huyết áp, sốt rét, nhức đầu, khát nước, tức ngực khó thở, ho, thương hàn, điều kinh (Rễ sắc uống). Lá dùng xông chữa đau mỏi lưng.

Mô tả

  • Cây thảo, sống lâu năm, cao 40 – 60 cm. Thân hình trụ nhẵn, phân cành nhiều ở gần ngọn, vỏ ngoài màu đỏ nâu. lá mọc so le, hình bầu dục hoặc hình trứng ngược, dài 3 – 4 cm, rộng 1-2 cm, gốc thuôn hẹp men theo cuống, đầu tù, mép khía răng, hai mặt nhẵn, phiến dày vò ra có mùi thơm hắc.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành ngù gồm nhiều đầu, đầu gần hình cầu mọc đơn độc hoặc tu họp 3-4 cái, gần như không cuống; lá bắc nhiều, nhẵn, lá bắc trong hẹp dần; hoa màu hồng; mào lông màu trắng bẩn; hoa cái nhiều ở ngoài, có tràng rất hẹp 4 răng nhỏ; hoa lưỡng tính ít ở giữa có tràng hình tru 5 thùy, nhị 5, bao phấn có tai, bầu hơi có tuyến.
  • Quả bế, hình trụ, có 10 cạnh lồi. Mùa hoa quả : tháng 5-7.

Phân bố, sinh thái

Sài hồ nam phân bố chủ yếu ở vùng ven biển nhiệt đới châu Á, từ phía nam Trung Quốc, gồm cả đảo Hải Nam đến Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và một số nước khác ở Đông Nam và Nam Á. Ở Việt Nam, cây cũng chỉ thấy ở các tỉnh vùng ven biển, nhiều nhất ở khu vực miền Trung và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Sài hồ nam thích nghi đặc biệt với các vùng nước lợ; đồng thời cây vẫn có thể sinh trưởng tốt ở vùng nước ngọt hoặc vùng bị nhiễm mặn. Do đó, nơi sống chủ yếu của sài hồ nam thuộc lưu vực các cửa sông, trên bờ các kênh rạch, ven đường đi, bờ ruộng cao ỏ khu vực ven biển.

Sài hồ nam là cây ưa sáng, thường mọc thành từng khóm riêng lẻ; đôi khi cũng tạo thành quần thể tương đối điển hình dọc theo các bờ kênh mương. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Hạt phát tán nhờ gió hoặc theo các dòng nước. Những cây đã trưởng thành có thể chịu được ngập úng một số ngày trong mùa mưa.

Nguồn sài hồ nam mọc tự nhiên ở Việt Nam tương đối dồi dào. Trữ lượng của cây tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông cửu Long, sau đến các tỉnh ven biển Trung Bộ, như Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, Phú Yên. Cây có thể trồng được dễ dàng bằng cành như trồng loài cúc tần.

Bộ phận dùng

Rễ và lá. Rễ thu hái quanh năm, đào về cắt bỏ rễ con, rửa sạch, phơi hay sấv khô. Có thể tẩm rượu hoặc mật ong sao thơm. Cành mang lá non cũng thu hái quanh năm, dùng tươi, phơi khô hay nấu thành cao.

Thành phần hóa học

Phần trên mặt đất của sài hồ nam phơi khô , chiết bằng n hexan chữa cá hợp chất triterpenoid

Tác dụng dược lý

Các tác giả Lê Minh Xuân, Phạm Thị Bích Thuận (Viện Y học dân tộc) đã nghiên cứu tác dụng dược lý của viên cảm cúm sản xuất từ sài hồ nam và đã có một số nhận xét sau : trên chuột cống trắng gây sốt bằng men bia, viên này dùng với liều 0,3 g/kg thân trọng, làm hạ thân nhiệt 0,2°c sau khi dùng thuốc 3 giờ. sử dụng viên cảm cúm trên lâm sàng cho 45 bệnh nhân có sốt thì sau khi dùng thuốc 30 phút có 40 bệnh nhân hạ sốt, trong đó có 68,9% trường hợp hạ sốt từ 0,5 đến 1,5°c.

Ngoài ra, Lưu Thị Thiên Hương và Phan Văn Minh đã nghiên cứu tác dụng dược lý và hiệu quả điều trị trên lâm sàng của chè giải cảm, trong đó thành phần chủ yếu là lá sài hồ nam và đã kết luận như sau : trên động vật thí nghiệm, chè có tác dụng hạ nhiệt rõ rệt (hạ 0,63°C), kèm theo lợi tiểu, làm tăng nhu động ruột, không có tác dụng lợi mật. Trên lâm sàng, chè có tác dụng hạ sốt kéo dài, lợi tiểu nhẹ, an thần, giảm đau, không ảnh hưởng đến hô hấp và huyết áp.

Tính vị, công năng

Lá và rễ sài hồ nam có vị mặn, hơi đắng, tính mát, có tác dụng phát tán phong nhiệt, lợi tiểu, điều kinh.

Công dụng

Sài hồ nam được dùng thay cho sài hồ bắc để chữa sốt, cảm, cúm. Ngày 8 – 20g.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.